Pháp luật Thuế

Thuế TNCN 10% cho lương tháng nghỉ việc trả sau khi chấm dứt hợp đồng

Tác giả: SprinGO · 22/07/2026

Tiền lương chi trả sau khi kết thúc HĐLĐ chịu thuế TNCN 10% nếu từ 5 triệu đồng/lần trở lên.

Điểm Mới Về Thuế TNCN: Lương Tháng Nghỉ Việc Chi Trả Sau Sẽ Khấu Trừ 10%

Cục thuế đã xác nhận rằng lương tháng nghỉ việc được chi trả sau khi chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) sẽ bị khấu trừ 10% thuế TNCN. Điều này được quy định rõ tại khoản 2 Điều 50 của Nghị định 253/2026/NĐ-CP.

Thuế TNCN Cho Lương Tháng Nghỉ Việc

Quy định cụ thể tại Nghị định 253/2026/NĐ-CP về khấu trừ thuế như sau:

Khấu trừ thuế
...
2. Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng (bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động) mà mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân. Trường hợp mức chi trả thu nhập dưới 05 triệu đồng/lần thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% khi cá nhân có yêu cầu.
Trường hợp cá nhân chỉ có thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân. Cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào cam kết của cá nhân, tổ chức trả thu nhập không khấu trừ thuế. Kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn phải tổng hợp danh sách và thu nhập của những cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế và nộp cho cơ quan thuế.
Đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần, kể cả trường hợp cá nhân ký hợp đồng từ 03 tháng trở lên tại nhiều nơi.
...

Doanh nghiệp khi chi trả lương sau khi người lao động đã chấm dứt HĐLĐ cần áp dụng mức khấu trừ thuế 10% nếu thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên. Điều này khác với biểu thuế lũy tiến từng phần áp dụng cho người lao động đang có hợp đồng từ 03 tháng trở lên.

Tiền lương chi trả sau khi chấm dứt HĐLĐ phải khấu trừ thuế 10% nếu mức chi trả đạt yêu cầu, do quan hệ lao động đã kết thúc.

Quy định này kế thừa từ Thông tư 111/2013/TT-BTC nhưng được Nghị định 253/2026/NĐ-CP làm rõ hơn, hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng dễ dàng hơn trong thực tế.

Trước đây, tại Chương trình Hỗ trợ trực tuyến Quyết toán Thuế TNCN năm 2024 do Cục Thuế tổ chức ngày 25/3/2025, có nhiều giải đáp liên quan đến quản lý thuế TNCN đã được làm rõ.

Một điểm đáng chú ý là câu hỏi liên quan đến việc liệu tiền lương chi trả sau khi người lao động chấm dứt HĐLĐ sẽ bị khấu trừ thuế TNCN theo biểu thuế lũy tiến từng phần hay mức 10%. Theo đó, Cục Thuế đã có hướng dẫn cụ thể như sau:

Người nộp thuế: Ngọc KT Cty Dược phẩm Linh Anh

Địa chỉ: Hà Nội

Cho em hỏi, thu nhập tiền lương bên công ty em chi vào ngày 10 Tây của tháng tiếp theo, vậy tiền lương của lao động sau ngày chấm dứt hợp đồng thu thuế lũy tiến hay 10%. Ví dụ nghỉ việc vào ngày 1/4 thì phần tiền lương tháng 3 sẽ thu lũy tiến hay 10%?

Trả lời:

Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 8 và khoản 1 Điều 25 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính:

“2. Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công

a) Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công được xác định bằng tổng số tiền lương, tiền công, tiền thù lao, các khoản thu nhập khác có tính chất tiền lương, tiền công mà người nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế theo hướng dẫn tại khoản 2, Điều 2 Thông tư này.

b) Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế.

Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế…”

“Điều 25. Khấu trừ thuế và chứng từ khấu trừ thuế

1. Khấu trừ thuế

b) Thu nhập từ tiền lương, tiền công

b.1) Đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ ba (03) tháng trở lên thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần, kể cả trường hợp cá nhân ký hợp đồng từ ba (03) tháng trở lên tại nhiều nơi.

i) Khấu trừ thuế đối với một số trường hợp khác

Các tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động (theo hướng dẫn tại điểm c, d, khoản 2, Điều 2 Thông tư này) hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba (03) tháng có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân…”

Căn cứ quy định nêu trên, đối với trường hợp của doanh nghiệp, cá nhân nhận các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công sau khi đã chấm dứt hợp đồng lao động thì doanh nghiệp khấu trừ theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân đó.

Vậy, đối với trường hợp "tiền lương của tháng nghỉ việc chi trả sau khi chấm dứt HĐLĐ, người lao động có thể làm bản cam kết không khấu trừ thuế TNCN hay không?"

Về vấn đề này, Cơ quan thuế đã cung cấp giải đáp tại cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính về việc đơn vị chi trả vẫn phải khấu trừ thuế TNCN 10% dù cá nhân đã làm cam kết dưới đây:

CÂU HỎI:

Theo nghị định 253/2026/NĐ-CP về hướng dẫn luật thuế TNCN, tại khoản 2 điều 50 - Khấu trừ thuế có quy định: "Trường hợp cá nhân chỉ có thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết gửi tổ chức chi trả để tổ chức chi trả làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ..." Vậy câu hỏi tôi xin được Cơ quan thuế giải đáp có hai ý: 1. Cá nhân chỉ có thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ theo tỷ lệ nêu trên nghĩa là cá nhân đó chỉ có thu nhập từ các hợp đồng dịch vụ, khoán...mà không phải hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật lao động đúng hay không 2. Trường hợp tại thời điểm làm cam kết, cá nhân đó chỉ có thu nhập nêu trên, hoặc cá nhân đó tự ý khai báo với đơn vị chi trả thu nhập sai thông tin (ví dụ trước đó có làm cho công ty khác và có ký hợp đồng lao động - theo quy định Bộ luật lao động) nhưng sau đó làm việc tại công ty khác và ký hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật lao động, thì đơn vị trước đó cá nhân làm cam kết có bị Cơ quan thuế yêu cầu khấu trừ 10% theo quy định của nghị định 253 hay không.

TRẢ LỜI:

Căn cứ khoản 2 Điều 50: Khấu trừ thuế tại nghị định 253/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật thuế thu nhập cá nhân:

“2. Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chỉ khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng (bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động) mà mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân. Trường hợp mức chi trả thu nhập dưới 05 triệu đồng/lần thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% khi cá nhân có yêu cầu.”

Cá nhân thuộc đối tượng khấu trừ theo tỷ lệ nêu trên là cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng mà mức chi trả từ 05 triệu đồng/lần trở lên.

Căn cứ khoản 1 Điều 67: Khấu trừ thuế, khai thuế thay, nộp thuế thay tại nghị định 253/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật thuế thu nhập cá nhân:

“Tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập (kể cả chủ quản nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác có chức năng đặt hàng trực tuyến và chức năng thanh toán, tổ chức ký hợp đồng làm đại lý bán đúng giá đối với hoạt động bảo hiểm, xổ số, bán hàng đa cấp, tổ chức ký hợp đồng với cá nhân thực hiện hoạt động môi giới; tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho cá nhân không cư trú; tổ chức, cá nhân là bên Việt Nam hoàn trả chi phí tiền lương, tiền công cho bên nước ngoài) trước khi chi trả các khoản thu nhập cho cá nhân có trách nhiệm thực hiện khấu trừ và nộp số thuế đã khấu trừ của người nộp thuế, trừ các khoản thu nhập quy định tại khoản 4 Điều này..”

Trường hợp tại thời điểm làm cam kết, cá nhân đó chỉ có thu nhập nêu trên, hoặc cá nhân đó tự ý khai báo với đơn vị chi trả thu nhập sai thông tin (ví dụ trước đó có làm cho công ty khác và có ký hợp đồng lao động - theo quy định Bộ luật lao động) nhưng sau đó làm việc tại công ty khác và ký hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật lao động, thì đơn vị trước đó cá nhân làm cam kết vẫn phải khấu trừ 10% theo quy định.

Theo phản hồi từ Cơ quan thuế, trường hợp cá nhân chỉ khai một khoản thu nhập hoặc không khai báo đầy đủ tình trạng thu nhập, đơn vị chi trả vẫn phải khấu trừ 10% thuế TNCN theo quy định. Điều này cho thấy bản cam kết của người lao động không miễn trừ trách nhiệm khấu trừ thuế nếu không đáp ứng điều kiện pháp luật.

KẾT LUẬN NGẮN GỌN:

Dựa trên các căn cứ trên, theo Nghị định 253/2026/NĐ-CP và hướng dẫn của Cục Thuế, tiền lương của tháng nghỉ việc được trả sau khi chấm dứt HĐLĐ phải khấu trừ 10% thuế TNCN, không áp dụng biểu thuế lũy tiến. Đồng thời, nếu cá nhân không tuân thủ điều kiện lập bản cam kết, đơn vị chi trả vẫn phải khấu trừ 10% trước khi trả thu nhập.

Thời điểm lập chứng từ khấu trừ thuế TNCN đối với cá nhân ký hợp đồng lao động trên 3 tháng là khi nào?

Căn cứ vào Điều 24 Nghị định 254/2026/NĐ-CP quy định việc lập chứng từ khấu trừ thuế TNCN từ 01/07/2026 như sau:

Thời điểm lập chứng từ
1. Tại thời điểm khấu trừ thuế thu nhập cá nhân, tổ chức phải lập chứng từ, biên lai cho người nộp thuế, ngoại trừ các trường hợp tại khoản 2, 3 và 4.
2. Trường hợp cá nhân ủy quyền quyết toán thuế, tổ chức không phải lập chứng từ khấu trừ.
3. Đối với cá nhân không ký hợp đồng hoặc hợp đồng dưới 03 tháng, lập chứng từ cho mỗi khấu trừ hoặc một chứng từ cho nhiều lần khấu trừ trong một năm khi cá nhân yêu cầu. Với hợp đồng từ 03 tháng trở lên, chỉ lập một chứng từ trong một năm tính thuế.
4. Đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán, đầu tư và các nguồn khác đã khấu trừ tại nguồn, không cần lập chứng từ khấu trừ.
5. Thời điểm ký số trên chứng từ là khi tổ chức sử dụng chữ ký số ký trên chứng từ điện tử, hiển thị theo định dạng ngày, tháng, năm.

Như vậy, đối với hợp đồng lao động trên 3 tháng, chỉ cần lập một chứng từ khấu trừ thuế mỗi năm.

Có bắt buộc chuyển hợp đồng lao động bản giấy sang hợp đồng lao động điện tử không?

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Nghị định 337/2025/NĐ-CP quy định hiệu lực thi hành:

Hiệu lực thi hành
1. Nghị định có hiệu lực từ 01/01/2026.
Chậm nhất là 01/07/2026, nền tảng hợp đồng điện tử chính thức vận hành. Việc thực hiện hợp đồng điện tử theo quy định từ 01/07/2026.
...

Theo quy định trên, ngày 01/07/2026 là mốc áp dụng các quy định giao kết, thực hiện hợp đồng theo Nghị định 337/2025/NĐ-CP. Đây cũng là khi nền tảng hợp đồng lao động điện tử phải bắt đầu vận hành, không có nghĩa là bãi bỏ hợp đồng lao động bằng giấy.

Vì vậy, hợp đồng lao động bằng giấy đã ký trước hoặc sau ngày 1/7/2026 vẫn có giá trị pháp lý theo pháp luật.

Như vậy, pháp luật không yêu cầu chuyển đổi hợp đồng lao động giấy sang hợp đồng điện tử từ 01/07/2026.

Lưu ý: theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 337/2025/NĐ-CP, hợp đồng lao động điện tử là hợp đồng được ký kết dưới dạng thông điệp dữ liệu theo quy định pháp luật lao động và giao dịch điện tử, có giá trị pháp lý như hợp đồng lao động bằng văn bản giấy.

SprinGO · HRSpring.vn · Tư vấn, đào tạo và phát triển tổ chức
Lưu ý:
  • Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của SPRINGO. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email hrspring.vn@gmail.com.
  • Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo.
  • Điều khoản áp dụng theo Luật tại thời điểm viết bài.
  • Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail hrspring.vn@gmail.com.

Cùng SprinGO kiến tạo doanh nghiệp vững từ gốc

SprinGO đồng hành cùng doanh nghiệp chuẩn hóa hệ thống quản trị, phát triển con người và tổ chức theo hướng tinh gọn, linh hoạt, phù hợp với thực tiễn vận hành.

Liên hệ SprinGO

Chủ đề liên quan

Gợi ý theo nội dung bài viết — bấm để xem thêm bài cùng chủ đề.

Zalo