Pháp luật Thuế

Khấu trừ thuế TNCN 10% với tiền lương sau nghỉ việc: Quy định mới nhất

Tác giả: SprinGO · 23/07/2026

Điểm mới về khấu trừ 10% thuế TNCN cho tiền lương trả sau khi nghỉ việc: Không phân biệt loại HĐLĐ.

Điều kiện khấu trừ thuế TNCN 10% khi trả lương sau nghỉ việc: Điều gì cần biết?

Khấu trừ 10% thuế TNCN cho tiền lương trả sau khi nghỉ việc có ảnh hưởng đến người lao động ký hợp đồng không xác định thời hạn hay không? Đây là một trong những điểm đáng chú ý cho bộ phận nhân sự và quản trị doanh nghiệp.

Những vấn đề xung quanh chính sách khấu trừ 10%

Hiện nay, quy định khấu trừ 10% thuế TNCN đối với khoản lương trả sau khi chấm dứt hợp đồng lao động có hai cách hiểu khác nhau. Một ý kiến cho rằng điều này chỉ áp dụng cho người lao động ký hợp đồng xác định thời hạn (từ 3 tháng trở lên), trong khi những người ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn phải khấu trừ thuế theo biểu lũy tiến từng phần.

Trong khi đó, một quan điểm khác cho rằng dù hợp đồng có thời hạn từ 3 tháng hay không xác định thời hạn, tiền lương trả sau khi chấm dứt hợp đồng vẫn chịu mức khấu trừ 10% thuế TNCN. Vậy cách hiểu nào mới thực sự phù hợp với quy định hiện hành? Cùng phân tích chi tiết trong nội dung dưới đây.

Tại Chương trình hỗ trợ trực tuyến quyết toán thuế TNCN do Cục Thuế tổ chức trên Cổng Thông tin điện tử, cơ quan thuế đã trả lời thắc mắc về vấn đề này.

Cụ thể, câu hỏi đặt ra là tiền lương trả sau khi nghỉ việc sẽ khấu trừ thuế như thế nào. Cục Thuế hướng dẫn rằng, đối với khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công sau khi đã chấm dứt hợp đồng, mức thuế khấu trừ sẽ là 10%.

Người nộp thuế: Ngọc KT Cty Dược phẩm Linh Anh

Địa chỉ: Hà Nội

Em xin hỏi, tiền lương được chi trả vào ngày 10 của tháng sau, với tiền lương của tháng nghỉ việc có áp dụng mức khấu trừ lũy tiến hay 10%? Ví dụ, nghỉ việc ngày 1/4 thì lương tháng 3 sẽ bị khấu trừ lũy tiến hay 10%?

Trả lời:

Dựa trên khoản 2 Điều 8 và khoản 1 Điều 25 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính:

“2. Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công”

a) Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công là tổng các khoản thu nhập có tính chất tiền lương, tiền công.”

“Điều 25: Khấu trừ thuế và chứng từ khấu trừ thuế”

1. Khấu trừ thuế

b.1) Đối với hợp đồng lao động từ ba tháng trở lên, khấu trừ thuế theo biểu lũy tiến từng phần, kể cả khi ký tại nhiều nơi.”

“i) Các trường hợp thu nhập từ hợp đồng dưới 3 tháng hoặc không ký hợp đồng có tổng thu nhập từ 2 triệu đồng/lần trở lên sẽ phải khấu trừ thuế 10% trước khi trả.”

Với trường hợp nhận thu nhập sau khi chấm dứt hợp đồng, doanh nghiệp sẽ khấu trừ 10% trước khi chi trả.

Như vậy, ngay từ thời điểm áp dụng Thông tư 111/2013/TT-BTC, Cục Thuế đã xác định tiêu chí quyết định không phải là loại hợp đồng lao động mà là thời điểm chi trả thu nhập. Nếu doanh nghiệp trả tiền lương sau khi quan hệ lao động đã chấm dứt thì khoản tiền này thuộc trường hợp khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10%.

Hiện nay, nội dung này đã được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP như sau:

Khấu trừ thuế
...
2. Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng (bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động) mà mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân. Trường hợp mức chi trả thu nhập dưới 05 triệu đồng/lần thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% khi cá nhân có yêu cầu.
Trường hợp cá nhân chỉ có thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân. Cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật liên quan khác.
Căn cứ vào cam kết của cá nhân, tổ chức trả thu nhập không khấu trừ thuế. Kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn phải tổng hợp danh sách và thu nhập của những cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế và nộp cho cơ quan thuế.
Đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần theo quy định tại khoản 1 Điều này, kể cả trường hợp cá nhân ký hợp đồng từ 03 tháng trở lên tại nhiều nơi.
...

Theo đó, trường hợp doanh nghiệp chi trả tiền lương, tiền công hoặc các khoản thu nhập khác cho người lao động sau khi người đó đã chấm dứt hợp đồng lao động thì khoản thu nhập này không còn được khấu trừ theo biểu thuế lũy tiến từng phần.

Thay vào đó, tiền lương chi trả sau khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động sẽ phải khấu trừ thuế TNCN 10% nếu mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân.

Có thể thấy, tại khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CPkhông phân biệt trước đây người lao động ký hợp đồng lao động xác định thời hạn hay hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Chỉ cần tại thời điểm chi trả, người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động thì khoản thu nhập đó thuộc trường hợp được quy định tại khoản này và thực hiện khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% nếu đáp ứng điều kiện về mức chi trả.

Về bản chất, quy định này được kế thừa từ Thông tư 111/2013/TT-BTC. Tuy nhiên, Nghị định 253/2026/NĐ-CP đã quy định rõ hơn khi bổ sung trực tiếp trường hợp "trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động" vào đối tượng áp dụng mức khấu trừ 10%, qua đó giúp doanh nghiệp dễ áp dụng hơn trên thực tế.

Như vậy, quy định khấu trừ 10% thuế TNCN đối với tiền lương chi trả sau khi người lao động nghỉ việc áp dụng cho tất cả các trường hợp của người lao động, không phân biệt người lao động ký hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 3 tháng trở lên hay ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Điều quyết định không phải là loại hợp đồng lao động đã ký mà là thời điểm doanh nghiệp thực tế chi trả khoản thu nhập.

Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng cuối khoản 2 Điều 50 nghị định 253/2026/NĐ-CP đã quy định người lao động ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên phải khấu trừ thuế theo biểu thuế lũy tiến từng phần thì hợp đồng lao động không xác định thời hạn cũng pháp áp dụng như thế. Vậy cách hiểu này có đúng không?

Mặc dù cuối khoản 2 Điều 50 nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định: "Đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần...", nhưng quy định này cần được hiểu trong mối quan hệ với toàn bộ khoản 2.

Cụ thể, ngay phần đầu của khoản 2, pháp luật về thuế đã bổ sung riêng trường hợp "trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động" vào nhóm đối tượng áp dụng khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10%. Đây là quy định đặc thù đối với khoản thu nhập được chi trả sau khi quan hệ lao động đã chấm dứt.

Do đó, khi doanh nghiệp đã chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động rồi mới phát sinh việc chi trả tiền lương thì việc khấu trừ thuế được thực hiện theo quy định dành riêng cho trường hợp này. Lúc này, việc trước đây người lao động ký hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 3 tháng trở lên hay hợp đồng lao động không xác định thời hạn không còn là căn cứ để tiếp tục áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần. Nếu hiểu ngược lại thì việc nghị định 253/2026/NĐ-CP bổ sung cụm từ "bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động" vào khoản 2 sẽ không còn nhiều ý nghĩa trong thực tiễn áp dụng. Cách hiểu này cũng phù hợp với hướng dẫn của Cục Thuế trước đây khi xác định tiền lương trả sau khi người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10%.

Tiền lương chi trả sau khi nghỉ việc chia thành nhiều đợt thanh toán có phải khấu trừ 10% thuế TNCN không?

Căn cứ tại Điều 8 luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định về thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công như sau:

Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công
1. Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được xác định bằng thu nhập tính thuế quy định tại khoản 2 Điều này, không phân biệt nơi trả thu nhập, nhân (x) với thuế suất tại Biểu thuế lũy tiến từng phần quy định tại Điều 9 của Luật này.
2. Thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công là tổng thu nhập chịu thuế quy định tại khoản 2 Điều 3 của Luật này mà người nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế, trừ (-) đi các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc, khoản đóng góp tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ không vượt quá mức do Chính phủ quy định và các khoản giảm trừ quy định tại Điều 10 và Điều 11 của Luật này.
3. Thời điểm xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế hoặc thời điểm người nộp thuế nhận được thu nhập.

Theo đó, thời điểm xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế hoặc thời điểm người nộp thuế nhận được thu nhập.

Tuy nhiên, việc áp dụng khấu trừ theo biểu lũy tiến từng phần hay khấu trừ 10% còn phụ thuộc vào tính chất của khoản thu nhập được chi trả và tình trạng hợp đồng lao động tại thời điểm thanh toán.

Đồng thời, tại khoản 2 Điều 50 nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định đã trích tại Mục 1 về khấu trừ thuế TNCN sau khi nghỉ việc.

Theo quy định, từ ngày 01/7/2026, người lao động có thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân. Trường hợp cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần.

Như vậy, tiền lương chi trả sau khi nghỉ việc chia thành nhiều đợt thanh toán có phải khấu trừ 10% thuế TNCN hay không được xác định như sau:

- Nếu mỗi lần chi trả từ 05 triệu đồng trở lên thì doanh nghiệp phải khấu trừ 10% trên số tiền trước khi chi trả, trừ trường hợp cá nhân đủ điều kiện làm cam kết theo quy định.

- Nếu mỗi lần chi trả dưới 05 triệu đồng thì doanh nghiệp không bắt buộc khấu trừ 10% thuế TNCN, chỉ thực hiện khấu trừ khi người lao động có yêu cầu.

Ngoài ra, tiền lương chi trả sau khi nghỉ việc ở mỗi đợt thanh toán với mức chi trả dưới 5.000.000 đồng/lần trong tháng thì vào mỗi lần chi trả (thấp hơn 5.000.000 đồng/lần) công ty tạm thời không phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi chi trả cho người lao động.

Nhưng đến cuối tháng công ty tổng hợp thu nhập đã chi trả cho từng cá nhân trong tháng, tính và kê khai nộp thuế TNCN (theo mức 10%) đối với những cá nhân có tổng thu nhập từ 5.000.000 đồng trở lên.

Do đó, tiền lương chi trả sau khi nghỉ việc thành nhiều đợt thanh toán không mặc nhiên làm phát sinh hoặc làm tránh nghĩa vụ khấu trừ thuế. Vì vậy, phải dựa vào giá trị của từng lần chi trả và tình trạng hợp đồng lao động tại thời điểm thanh toán để thực hiện khấu trừ đúng quy định.

Lưu ý: Trường hợp doanh nghiệp chỉ thanh toán tiền lương, tiền công của thời gian người lao động còn làm việc trước khi chấm dứt hợp đồng thì vẫn thực hiện khấu trừ theo biểu thuế lũy tiến từng phần.

Làm sao để biết thu nhập của mình không thuộc diện khấu trừ 10% thuế TNCN?

Để người lao động biết thu nhập của họ không thuộc diện phải khấu trừ 10% thuế TNCN, cần hiểu rõ các trường hợp mà quy định pháp luật về thuế thu nhập cá nhân áp dụng mức khấu trừ 10% thuế TNCN.

Trước đây đã có nhiều Công văn hướng dẫn về mức khấu trừ 10% thuế TNCN (khấu trừ tại nguồn) thường áp dụng trong các trường hợp sau:

[1] Thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng:

- Theo Công văn 3229/TCT-CS năm 2024 của Tổng cục Thuế, nếu Công ty chi trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng với tổng mức trả thu nhập từ 02 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ 10% thuế TNCN trước khi trả cho cá nhân.

- Tương tự, Công văn 4850/CTHN-TTHT năm 2024 của Cục Thuế TP. Hà Nội và Công văn 42227/CTHN-TTHT năm 2022 của Cục Thuế TP. Hà Nội cũng quy định mức khấu trừ 10% thuế TNCN áp dụng cho cá nhân thực hiện dịch vụ môi giới, dịch vụ mà không có hợp đồng lao động hoặc chỉ ký hợp đồng dưới 3 tháng, với điều kiện thu nhập từ 2 triệu đồng/lần trở lên.

[2] Thu nhập vãng lai chưa khấu trừ thuế tại nguồn:

- Công văn 4094/CT-CS năm 2025 của Cục Thuế nêu rõ, trường hợp cá nhân trong năm có thu nhập từ tiền lương, tiền công từ 02 nơi trở lên, trong đó có thu nhập vãng lai chưa được khấu trừ 10% thuế TNCN (khấu trừ tại nguồn) thì không đủ điều kiện để ủy quyền quyết toán thuế. Điều này có thể hiểu các khoản thu nhập vãng lai này, nếu đủ điều kiện về giá trị theo quy định, sẽ phải được khấu trừ 10% tại nguồn.

[3] Tiền lương thử việc trong một số trường hợp:

- Theo Công văn 7982/HYE-QLDN2 năm 2026 của Thuế tỉnh Hưng Yên, nếu sau khi kết thúc hợp đồng thử việc, Công ty không ký hợp đồng lao động chính thức với người lao động, thì Công ty phải khấu trừ 10% thuế TNCN (khi trả thu nhập cho lao động thử việc) theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC.

- Tương tự công văn 146/HUE-QLDN năm 2026 của Thuế thành phố Huế, hướng dẫn về việc khấu trừ thuế TNCN khi chấm dứt hợp đồng lao động, nếu công ty chi trả các khoản lợi ích và khoản thanh toán có tính chất tiền lương cho người lao động sau khi chấm dứt hợp đồng, thì khi số tiền này từ hai triệu đồng trở lên, công ty phải khấu trừ 10% thuế TNCN trước khi thanh toán (trừ các khoản không thuộc diện tính thuế).

Theo khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, tổ chức trả thu nhập cho cá nhân không ký hợp đồng hoặc hợp đồng dưới 03 tháng, nếu chi trả từ 05 triệu đồng trở lên, phải khấu trừ 10% thuế trước khi trả tiền.

Vậy, để tránh bị khấu trừ 10% thuế TNCN, người lao động cần lưu ý:

- Có hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên: Nếu thu nhập có từ một nguồn duy nhất hoặc đã khấu trừ 10% thuế với thu nhập vãng lai, thuế lũy tiến từng phần sẽ được áp dụng. Việc quyết toán năm sẽ xác định nghĩa vụ thuế chính xác.

- Không có thu nhập vãng lai chưa khấu trừ: Nếu chỉ có thu nhập từ một nơi hoặc đã khấu trừ đúng các khoản thu nhập vãng lai, có thể ủy quyền quyết toán thuế cho đơn vị trả thu nhập.

- Kiểm tra chứng từ khấu trừ thuế TNCN: Người lao động cần yêu cầu và kiểm tra chứng từ khấu trừ. Nếu đã khấu trừ thuế thì phải cấp chứng từ ghi rõ thu nhập và số thuế đã khấu trừ.

Như vậy, người lao động có hợp đồng từ 03 tháng sẽ không bị khấu trừ 10% thuế, nhưng các khoản chi trả sau khi chấm dứt hợp đồng vẫn phải khấu trừ nếu đạt điều kiện của Nghị định 253/2026/NĐ-CP.

Nếu thu nhập chỉ thuộc diện phải khấu trừ 10% thuế mà sau giảm trừ gia cảnh không đến mức phải nộp thuế, cá nhân có thể làm cam kết để tổ chức không khấu trừ tạm thời.

Cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm, nếu gian lận sẽ bị xử lý theo pháp luật quản lý thuế.

Lưu ý: Các công văn viện dẫn trên được ban hành khi Thông tư 111/2013/TT-BTC hiệu lực và hướng dẫn khấu trừ 10% với một số thu nhập. Từ 01/7/2026, thực hiện theo Nghị định 253/2026/NĐ-CP. Mức chi trả khấu trừ tăng từ 02 triệu đồng lên 05 triệu đồng, nhưng nguyên tắc vẫn kế thừa. Công văn chỉ có giá trị tham khảo, áp dụng phải theo Nghị định 253/2026/NĐ-CP.

SprinGO · HRSpring.vn · Tư vấn, đào tạo và phát triển tổ chức
Lưu ý:
  • Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của SPRINGO. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email hrspring.vn@gmail.com.
  • Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo.
  • Điều khoản áp dụng theo Luật tại thời điểm viết bài.
  • Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail hrspring.vn@gmail.com.

Cùng SprinGO kiến tạo doanh nghiệp vững từ gốc

SprinGO đồng hành cùng doanh nghiệp chuẩn hóa hệ thống quản trị, phát triển con người và tổ chức theo hướng tinh gọn, linh hoạt, phù hợp với thực tiễn vận hành.

Liên hệ SprinGO

Chủ đề liên quan

Gợi ý theo nội dung bài viết — bấm để xem thêm bài cùng chủ đề.

Zalo