Đã có dự thảo Nghị định quy định tổ chức các đơn vị sự nghiệp công lập?
Vừa qua, Bộ Tư pháp vừa công bố Tài liệu thẩm định dự thảo Nghị định quy định tổ chức các đơn vị sự nghiệp công lập.
Tải về dự thảo Nghị định.
Theo đó, dự thảo Nghị định đề xuất quy định về nguyên tắc thành lập, tổ chức lại, giải thể, chuyển giao đơn vị sự nghiệp công lập như sau:
– Việc thành lập, tổ chức lại, giải thể các đơn vị sự nghiệp công lập phải bảo đảm đúng điều kiện, trình tự, thủ tục và thẩm quyền quy định tại Nghị định này (trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành); một đơn vị sự nghiệp công lập có thể cung cấp nhiều dịch vụ sự nghiệp công cùng loại.
– Các đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập (kể cả đơn vị sự nghiệp công lập thuộc đơn vị sự nghiệp công lập) phải tự bảo đảm chỉ thường xuyên trở lên (trừ trường hợp phải thành lập mới để cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu). Riêng đối với đơn vị sự nghiệp công lập thuộc đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm về chi thường xuyên và chi đầu tư, khi thành lập mới (kể cả trường hợp cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu) phải tự bảo đảm về chi thường xuyên và chi đầu tư.
– Đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động không hiệu quả thì tổ chức lại hoặc giải thể. Việc tổ chức lại đơn vị sự nghiệp công lập không được làm tăng thêm số lượng người hưởng lương từ ngân sách nhà nước đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, thực hiện đúng quy định về số lượng cấp phó của đơn vị và thực hiện tỉnh giản biên chế theo quy định; đảm bảo không làm giảm mức độ tự chủ về tài chính hiện có của đơn vị. Trường hợp thực hiện hợp nhất, sáp nhập các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính ở các mức độ khác nhau thì mức độ tự chủ về tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập sau khi hợp nhất, sáp nhập được thực hiện theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
– Việc chuyển giao đơn vị sự nghiệp công lập được thực hiện theo nguyên tắc chuyển giao nguyên trạng đơn vị sự nghiệp công lập.
Đơn vị sự nghiệp công lập có phải nộp thuế TNDN không?
Theo Điều 2 Luật Thuế thu nhập doanh nghiêp 2025 quy định người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:
Người nộp thuế
1. Người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật này (sau đây gọi là doanh nghiệp), bao gồm:
a) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam;
b) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (sau đây gọi là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam;
c) Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập theo quy định của Luật Hợp tác xã;
d) Đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam;
đ) Tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập.
…
Đồng thời, theo khoản 1 và điểm n khoản 2 Điều 3 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 quy định thu nhập chịu thuế TNDN như sau:
Thu nhập chịu thuế
1. Thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và thu nhập khác quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Thu nhập khác bao gồm:
n) Thu nhập của đơn vị sự nghiệp công lập đối với các hoạt động cho thuê tài sản công;
…
Vì vậy, căn cứ các quy định nêu trên, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.
Theo đó, đơn vị có nghĩa vụ kê khai và nộp thuế TNDN đối với các khoản thu nhập chịu thuế phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và các khoản thu nhập khác theo quy định, bao gồm cả thu nhập từ hoạt động cho thuê tài sản công.
Công thức xác định số thuế TNDN hiện nay như thế nào?
Theo Điều 7 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 quy định công thức xác định số thuế TNDN như sau:
(1) Thu nhập tính thuế trong kỳ tính thuế được xác định như sau:
|
Thu nhập tính thuế |
= |
Thu nhập chịu thuế |
– |
Thu nhập được miễn thuế |
+ |
Các khoản lỗ được kết chuyển theo quy định |
(2) Thu nhập chịu thuế quy định tại Mục (1) được xác định như sau:
|
Thu nhập chịu thuế |
= |
Doanh thu |
– |
Các khoản chi được trừ |
+ |
Các khoản thu nhập khác (kể cả thu nhập nhận được ở ngoài Việt Nam) |
Lưu ý:
Doanh nghiệp có nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh trong kỳ tính thuế thì thu nhập chịu thuế từ hoạt động sản xuất, kinh doanh là tổng thu nhập của tất cả các hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Trường hợp có hoạt động sản xuất, kinh doanh bị lỗ thì được bù trừ số lỗ vào thu nhập chịu thuế của các hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập do doanh nghiệp tự lựa chọn (trừ thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản, chuyển nhượng dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền tham gia dự án đầu tư không bù trừ với thu nhập của hoạt động sản xuất, kinh doanh đang được hưởng ưu đãi thuế).
Phần thu nhập còn lại sau khi bù trừ áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp của hoạt động sản xuất, kinh doanh còn thu nhập.
Thu nhập chịu thuế từ hoạt động chuyển nhượng dự án đầu tư thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản; chuyển nhượng quyền tham gia dự án đầu tư thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản; chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản phải xác định riêng để kê khai nộp thuế, không được bù trừ lỗ, lãi với hoạt động sản xuất, kinh doanh trong kỳ tính thuế.


Bình luận