Nên rút bảo hiểm xã hội một lần hay chờ hưởng lương hưu?

Chia sẻ bởi:api_publisher
★★★★★
Quảng cáo
Nên rút bảo hiểm xã hội một lần hay chờ hưởng lương hưu?

Nên rút bảo hiểm xã hội một lần hay chờ hưởng lương hưu?

MỚI: Chính thức thống nhất Lịch nghỉ lễ 2/9 năm 2026 cho người lao động được nghỉ 5 ngày liên tiếp

Hiện nay, việc nên rút bảo hiểm xã hội một lần hay chờ hưởng lương hưu còn tùy thuộc vào tình hình thức tế của người người lao động. Tuy nhiên, người lao động có thể đối chiếu theo quy định pháp luật đây để có cái nhìn tổng quan hơn trong việc lựa chọn.

Cụ thể:

Tại Điều 169 Bộ luật Lao động 2019 quy định tuổi nghỉ hưu như sau:

Tuổi nghỉ hưu

1. Người lao động bảo đảm điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu khi đủ tuổi nghỉ hưu.

2. Tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035.

Kể từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với lao động nam và đủ 55 tuổi 04 tháng đối với lao động nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với lao động nam và 04 tháng đối với lao động nữ.

Dẫn chiếu đến Điều 4 Nghị định 135/2020/NĐ-CP quy định tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường vào năm 2026 lần lượt là 61 tuổi 6 tháng (đối với lao động nam) và 57 tuổi (đối với lao động nữ).

Đồng thời, Tại Điều 64 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định đối tượng và điều kiện hưởng lương hưu như sau:

Đối tượng và điều kiện hưởng lương hưu

1. Đối tượng quy định tại các điểm a, b, c, g, h, i, k, l, m và n khoản 1 và khoản 2 Điều 2 của Luật này khi nghỉ việc có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên thì được hưởng lương hưu nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động;

b) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại khoản 3 Điều 169 của Bộ luật Lao động và có tổng thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên khi làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành hoặc làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 01 tháng 01 năm 2021;

c) Có tuổi thấp hơn tối đa 10 tuổi so với tuổi quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động và có từ đủ 15 năm trở lên làm công việc khai thác than trong hầm lò theo quy định của Chính phủ;

d) Người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao.

Như vậy, thời gian đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu để đảm bảo điều kiện hưởng lương hưu hằng tháng chỉ còn từ đủ 15 năm trở lên (so với Luật cũ trước đây là 20 năm) nhằm tạo điều kiện giúp người lao động có thời gian tham gia BHXH ngắn vẫn có cơ hội được hưởng lương hưu.

Giả sử: Người lao động đang có thời gian tham gia BHXH được 12 năm và là nam giới sẽ nghỉ hưu vào tháng 12/2026. Theo đó, tính đến khi người lao động nghỉ hữu thì còn khoảng 2 năm nữa để đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định.

Khi đến tuổi nghỉ hưu, người lao động có thể tiếp tiếp đóng BHXH tự nguyên theo phương thức đóng một lần cho số năm còn thiếu, để đủ tối thiểu 15 năm tham gia BHXH. Có thể lựa chọn đóng Hằng tháng; 03 tháng một lần; 06 tháng một lần; 12 tháng một lần (theo Điều 36 Luật Bảo hiểm xã hội 2024).

Khi người lao động được hưởng lương hưu hằng tháng còn được cơ quan BHXH cấp thẻ BHYT miễn phí, với quyền lợi hưởng khi đi khám chữa bệnh cao hơn so với tham gia BHYT hộ gia đình.

Cụ thể, căn cứ theo Điều 22 Luật Bảo hiểm y tế 2008 được sửa đổi bởi khoản 17 Điều 1 Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi 2024 quy định người hưởng lương hưu khi khám chữa bệnh đúng tuyến được quỹ BHYT chi trả lên tới 95% chi phí; được chi trả 100% trong một số trường hợp như chi phí thấp hơn 15% lương cơ sở, khám chữa bệnh tại tuyến xã, hoặc có 5 năm tham gia BHYT liên tục trở lên và chi phí cùng chi trả trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở.

Trong khi đó, nếu tham gia BHYT hộ gia đình thì chỉ được quỹ BHYT chi trả 80% nếu đúng tuyến; còn trái tuyến chỉ được thanh toán khi điều trị nội trú, với tỷ lệ từ 40% đến 100% tùy tuyến bệnh viện.

Xem thêm: Hướng dẫn cách nộp thuế GTGT trên Dịch vụ công 2026

MỚI: Chốt điều chỉnh Lịch nghỉ 30 4 1 5 năm 2026 và Giỗ tổ 2026 cho người lao động được nghỉ nhiều hơn 2 ngày so với lịch nghỉ chính

Nên rút bảo hiểm xã hội một lần hay chờ hưởng lương hưu?

Doanh nghiệp trả lương qua chuyển khoản như nào để đúng luật và không vi phạm bảo hiểm xã hội?

Căn cứ theo điểm c khoản 1 Điều 9 Nghị định 320/2025/NĐ-CP quy định về các khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế:

Các khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế

1. Trừ các khoản chi không được trừ quy định tại Điều 10 của Nghị định này, doanh nghiệp được trừ các khoản chi khi xác định thu nhập chịu thuế nếu đáp ứng đủ điều kiện tại các điểm a, b và c sau đây:

c) Khoản chi có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh toán khác từng lần có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên. Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia tăng.

Đồng thời, tham khảo thêm Công văn 218/CST-TN năm 2026 hướng dẫn áp dụng chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt khi thanh toán tiền lương, tiền công cho người lao động.

Theo đó, từ nay việc trả lương từ 5 triệu đồng trở lên bắt buộc phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt mới được xác định là khoản chi được trừ khi tính thuế TNDN trong kỳ cũng như là được khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo Điều 26 Nghị định 181/2025/NĐ-CP.

Như vậy, doanh nghiệp phải trả lương qua chuyển khoản như nào để đúng luật và không vi phạm bảo hiểm xã hội?

Thông thường, khi doanh nghiệp thỏa thuận với người lao động một khoảng tiền lương mà không phân biệt rõ đâu là khoảng thu nhập cố định phải đóng BHXH theo luật định và đâu là các khoản phụ cấp không phải đóng BHXH.

Do đó, khi doanh nghiệp trả lương cho người lao động lo lắng rằng phải đóng BHXH 100% cho người lao động hay không?

Để đảm bảo đúng luật, doanh nghiệp nên phân bổ tiền lương một cách rõ ràng. Ví dụ hiện nay tiền lương cơ bản không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng tại Điều 3 Nghị định 293/2025/NĐ-CP.

Giả sử: Vùng 1 ở Thành Phố Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh đang là 5.310.000 đồng đối với người lao động Vùng 1 thì không doanh nghiệp không được trả lương thấp hơn mức này.

Đối với các khoảng phụ cấp như xăng xe, điện thoại, chuyên cần cũng không phải đóng BHXH nhưng cần quy định rõ theo ngày công và biến động theo hằng tháng trên hợp đồng lao động và trong quy chế lương để giải trình khi cần thiết.

Đối với thưởng hiệu suất phải có quy chế rõ ràng về thưởng cho nhân viên theo mức độ hoàn thành công việc vì biến động theo hiệu quả công việc nên không phải đóng BHXH. Tuy nhiên, để kê khai chi phí này thì doanh nghiệp phải có bản kê khai hiệu suất đánh giá công việc hằng tháng và quy định rõ về việc tính thưởng hiệu suất làm việc cho nhân viên.

Đối với khoản thưởng hoa hồng (nếu có) cũng phải có quy chế thưởng và bảng tính thưởng đi kèm thì mới đủ điều kiện để không đóng BHXH.

Từ những căn cứ trên, khi doanh nghiệp trả lương cho người lao động nếu trên 5 triệu đồng thì phải chuyển khoản để đúng luật và không vi phạm bảo hiểm xã hội cần phải tính đóng BHXH nếu khoản thu nhập không thuộc Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội 2024.

Một số nhóm phụ cấp dễ bị truy thu bảo hiểm xã hội trong quá trình thanh tra?

Hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp lầm tưởng rằng khi chi những khoảng phụ cấp thì sẽ không phải đóng bảo hiểm xã hội.

Tuy nhiên, khi cơ quan bảo hiểm xã hội đến thanh tra thì sẽ không nhìn vào tên gọi để xác định đó là khoản phụ cấp mà họ chỉ nhìn vào bản chất của các khoản chi trả này.

Nếu khoản đó mang tính chất ổn định, gắng với công việc hoặc vị trí thì doanh nghiệp gọi đó là khoản phụ cấp, hỗ trợ hay thưởng đi chăng nữa thì khi mà thanh tra kiểm tra cán bộ thuế, cán bộ bảo hiểm xem xét vẫn có khả năng sẽ quy về lương để căn cứ đóng bảo hiểm xã hội.

Cụ thể tại Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 đã quy định cụ thể như sau:

Căn cứ đóng bảo hiểm xã hội

1. Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được quy định như sau:

a) Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội là tiền lương tháng theo chức vụ, chức danh, ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề, hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có);

b) Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc là tiền lương tháng, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.

Trường hợp người lao động ngừng việc vẫn hưởng tiền lương tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất thì đóng theo tiền lương được hưởng trong thời gian ngừng việc;

c) Đối tượng quy định tại các điểm đ, e và k khoản 1 Điều 2 của Luật này thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc do Chính phủ quy định;

d) Đối tượng quy định tại các điểm g, h, m và n khoản 1 Điều 2 của Luật này được lựa chọn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng thấp nhất bằng mức tham chiếu và cao nhất bằng 20 lần mức tham chiếu tại thời điểm đóng.

Sau ít nhất 12 tháng thực hiện đóng bảo hiểm xã hội theo tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội đã lựa chọn thì người lao động được lựa chọn lại tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội;

đ) Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất bằng mức tham chiếu và cao nhất bằng 20 lần mức tham chiếu tại thời điểm đóng.

2. Thu nhập làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn và cao nhất bằng 20 lần mức tham chiếu tại thời điểm đóng.

3. Chính phủ quy định chi tiết điểm b khoản 1 Điều này; quy định việc truy thu, truy đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Tham chiếu theo quy định trên, dưới đây là một số nhóm phụ cấp dễ bị truy thu bảo hiểm xã hội trong quá trình thanh tra:

[1] Phụ cấp trách nhiệm

Hiện nay, phụ cấp trách nhiệm nếu doanh nghiệp trả theo chức danh, trưởng nhóm, quản lý, giám sát ổn định hàng tháng, không phụ thuộc vào tình hình thực tế, không có chứng từ chứng minh phát sinh với thanh tra bảo hiểm xã hội hay cán bộ thuế.

Về bản chất, đây là khoản tiền chi tra cho vị trí công việc nên phải tính vào lương để làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội.

Ví dụ: Một doanh nghiệp có 100 người, trả phụ cấp trách nhiệm 2 triệu cho toàn bộ cấp quản lý đều đặn, đầy đủ thì sau khi thanh tra sẽ có thể bị truy thu ngược.

[2] Phụ cấp chuyên cần

Khi phụ cấp chuyên cần được trả đủ hằng tháng cho dù nhân viên có vi phạm, đi muộn, khi nghỉ phép, khi nghỉ không lương,… thanh tra có thể sẽ kết luận khoản này là thu nhập cố định từ lương và dấu hiệu khiến cho doanh nghiệp bị truy thu có thể là do không có bản chấm công rõ ràng, không có quy định về tính chuyên cần hoặc quy chế doanh nghiệp.

Nếu một khoản chi phụ cấp mà có đủ 4 điểm như sau thì doanh nghiệp chắc chắn sẽ bị truy thu khi trả đều hàng tháng, ai cũng có và không phụ thuộc vào phát sinh gắn với chức danh, liên tục, thanh tra sẽ cho rằng đây là một hình thức lương trá hình. Bởi vì phụ cấp không sai, sai là thường dùng phụ cấp để trả lương mà doanh nghiệp lại trả đại trà, kể cả không có phát sinh cũng trả hoặc không chứng minh được mục đích chi trả, không có quy chế rõ ràng hoặc không có thỏa thuận rõ ràng với người lao động.

[3] Phụ cấp điện thoại, xăng xe

Hầu hết các doanh nghiệp hay trả khoán, trả đại trà mà không kèm chứng từ, căn cứ thực tế. Thanh tra có thể sẽ yêu cầu như lệnh công tác, lệnh di chuyển, nhật ký công việc. Nếu như doanh nghiệp không có những chứng từ này rất có khả năng cao sẽ bị loại.

[4] Phụ cấp ăn ca, nhà ở

Thông thường thanh tra sẽ hay hỏi một số câu hỏi đơn giản như ăn ở đâu, ai ăn và khi nào. Nếu doanh nghiệp không chứng minh được phụ cấp này là thực sự chi cho suất ăn hay chỗ ở nếu như không có bếp, không có hợp đồng cung cấp suất ăn, danh sách ăn ca nữa, không có phiếu thu nhận chi, nhất ký ăn ca thì toàn bộ các khoản này cũng sẽ có khăng năng bị quy thành lương.

[5] Phụ cấp hỗ trợ khác

Những khoản này phần lớn sẽ bị truy thu nếu có tên gọi chung như hỗ trợ khác, hỗ trợ thêm nhưng lại có các điều không rõ ràng như không mô tả được bản chất, không có điều kiện chi trả, không có quy định trong quy chế doanh nghiệp. Mặc dù trả đều hàng tháng nhưng lại không có một quy chế quy định rõ ràng, cụ thể và với thanh tra nếu như doanh nghiệp không giải trình được bản chất thì khả năng cao cũng sẽ quy vào thu nhập chịu đóng bảo hiểm xã hội.

Doanh nghiệp: 0969 798 944 | Cá nhân: 0984 394 338
Địa chỉ: KĐT Vinhome Gardenia Hàm Nghi, Cầu Diễn, Nam Từ Liêm, Hà Nội

Lưu ý:
  • Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của SPRINGO. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email hrspring.vn@gmail.com.
  • Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo.
  • Điều khoản áp dụng theo Luật tại thời điểm viết bài.
  • Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail hrspring.vn@gmail.com.
Xây dựng Lương 3P, KPI cho Doanh nghiệp
Khóa học SprinGO phù hợp

Xây dựng Lương 3P, KPI cho Doanh nghiệp

Làm thế nào để trả lương cho nhân viên chính xác nhất? Đây là một trong những câu hỏi khó trong quản trị nhân...

Xem khóa học
★★★★★ 5 ★ 1 👤 0 ▥ 0
Quảng cáo

Bạn nên đọc

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Quảng cáo

Cũ vẫn chất

Xem thêm