Cập nhật điểm mới quan trọng của Nghị định hướng dẫn Luật bảo hiểm xã hội số 41/2024
1. Người lao động thử việc không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc
Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Nghị định 158/2025/NĐ-CP, người lao động đang làm việc theo hợp đồng thử việc theo đúng quy định của pháp luật lao động không phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Điểm mới này nhằm làm rõ ranh giới giữa hợp đồng thử việc hợp pháp với những thỏa thuận lao động khác mang bản chất của quan hệ làm việc có trả lương, chịu sự điều hành, giám sát những trường hợp này vẫn thuộc diện bắt buộc tham gia BHXH theo điểm a khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội. Việc phân biệt rõ ràng sẽ giúp người sử dụng lao động và người lao động tránh được cách hiểu sai, từ đó đảm bảo thực hiện đúng nghĩa vụ pháp luật về bảo hiểm.
https://image3.luatvietnam.vn/uploaded/1200x675twebp/images/original/2024/07/21/da-co-toan-van-luat-bao-hiem-xa-hoi-sua-doi-so-41-2024-qh15_2107215227.jpg
Ứng dụng AI và Chat GPT trong Quản trị nhân sự
Học xong khóa này, học viên có thể: Hiểu đúng bản chất AI, các nhóm AI phổ biến và cách AI “hoạt động” ở...
Xem khóa họcNgười lao động trong giai đoạn thử việc không phải đóng BHXH theo Nghị định 158/2025.
2. Người quản lý doanh nghiệp không nhận lương chính thức thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc từ 01/7/2025
Theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội, từ ngày 01/7/2025, người quản lý doanh nghiệp và các chức danh tương đương không hưởng tiền lương sẽ thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
- n) Người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc, thành viên Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên và các chức danh quản lý khác được bầu của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của Luật Hợp tác xã không hưởng tiền lương.
Theo hướng dẫn tại điểm b khoản 3 Điều 3 Nghị định 158/2025/NĐ-CP, nếu các cá nhân này đồng thời thuộc nhiều nhóm đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật BHXH, thì việc tham gia bảo hiểm xã hội sẽ được xác lập theo thứ tự ưu tiên tương ứng với nhóm được liệt kê trước trong quy định, nhằm bảo đảm tính thống nhất và tránh trùng lặp nghĩa vụ.
Từ 01/7/2025, người quản lý doanh nghiệp không nhận lương phải tham gia BHXH bắt buộc
3. Chủ hộ kinh doanh
Từ ngày 01/7/2025, theo quy định mới tại Luật Bảo hiểm xã hội và hướng dẫn chi tiết tại khoản 2 Điều 3 Nghị định 158/2025/NĐ-CP, chủ hộ kinh doanh điều hành các hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh sẽ bắt buộc phải tham gia BHXH.
Cụ thể, nghĩa vụ tham gia BHXH bắt buộc áp dụng đối với:
- Chủ hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh và đang nộp thuế theo phương pháp kê khai.
- Với các hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh nhưng không thuộc nhóm kê khai thuế, việc tham gia BHXH bắt buộc được lùi đến ngày 01/7/2029.
Trường hợp chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh đã đăng ký kinh doanh đồng thời thuộc một trong các nhóm đối tượng quy định tại các điểm b, c, d, đ, e, i, a, l, k, n, h hoặc g khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội, thì việc tham gia BHXH bắt buộc sẽ được xác định theo nhóm đối tượng tương ứng được liệt kê trước trong thứ tự các điểm nêu trên.
Nghị định 158/2025/NĐ-CP chủ hộ kinh doanh có đăng ký chính thức thuộc diện tham gia BHXH
4. Mức tham chiếu khi xác định nghĩa vụ đóng và hưởng BHXH
Điều 5 Nghị định 158/2025 đã cụ thể hóa khái niệm và nguyên tắc xác định mức tham chiếu cơ sở để tính toán mức đóng, mức hưởng của một số chế độ trong hệ thống BHXH:
- Khi mức lương cơ sở chưa bị bãi bỏ, mức tham chiếu được xác định bằng mức lương cơ sở.
- Tại thời điểm mức lương cơ sở chính thức bị bãi bỏ, mức tham chiếu không được thấp hơn mức lương cơ sở cuối cùng đã áp dụng.
- Sau khi lương cơ sở bị bãi bỏ, mức tham chiếu sẽ do Chính phủ điều chỉnh, căn cứ vào diễn biến chỉ số giá tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế và khả năng cân đối từ ngân sách nhà nước cũng như quỹ BHXH.
5. Cập nhật căn cứ tiền lương và điều chỉnh truy thu BHXH theo hướng dẫn tại Nghị định 158/2025/NĐ-CP
Điều 7 và Điều 8 của Nghị định 158/2025/NĐ-CP đã cụ thể hóa một số nội dung trọng yếu liên quan đến tiền lương làm căn cứ đóng BHXH và quy định về truy thu, truy đóng, đảm bảo thống nhất trong việc áp dụng và minh bạch về nghĩa vụ của người sử dụng lao động và người lao động.
Tiền lương đóng BHXH đối với người lao động không làm việc toàn thời gian
Tiền lương được xác định trên cơ sở thỏa thuận trong hợp đồng lao động, tương ứng với hình thức chi trả:
- Theo giờ: nhân với số giờ làm việc trong tháng;
- Theo ngày: nhân với số ngày làm việc trong tháng;
- Theo tuần: nhân với số tuần làm việc trong tháng.
Việc quy định rõ ràng công thức tính giúp đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong việc đóng BHXH của người lao động làm việc bán thời gian.
Người quản lý doanh nghiệp có hưởng lương
Tiền lương làm căn cứ đóng BHXH là mức lương thực tế được hưởng, áp dụng theo quy định pháp luật về tiền lương đối với chức danh quản lý.
6. Điều chỉnh quy định về truy thu, truy đóng BHXH bắt buộc theo Nghị định 158/2025/NĐ-CP
Điều 8 Nghị định 158/2025/NĐ-CP đã cập nhật và mở rộng phạm vi các trường hợp truy thu, truy đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc nhằm tăng tính bao quát và phù hợp với thực tiễn phát sinh trong quan hệ lao động. Cụ thể:
Mở rộng các trường hợp phải truy thu, truy đóng BHXH
Các tình huống mới được bổ sung bao gồm:
- Việc điều chỉnh tăng tiền lương có hiệu lực hồi tố, làm thay đổi mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc.
- Người lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài, nếu được gia hạn hoặc ký mới hợp đồng tại nước tiếp nhận, sẽ thực hiện truy đóng BHXH sau khi về nước.
- Chủ hộ kinh doanh và người quản lý doanh nghiệp có hưởng lương không đóng BHXH đúng thời hạn quy định tại điểm b khoản 4 Điều 33 Luật BHXH 2024, sẽ phải thực hiện truy đóng theo quy định mới.
So với Nghị định 115/2015/NĐ-CP trước đây, nội dung sửa đổi lần này thể hiện bước tiến trong việc kiểm soát chặt chẽ các trường hợp phát sinh nghĩa vụ đóng BHXH nhằm đảm bảo công bằng và tránh thất thoát quỹ bảo hiểm xã hội.
Điều chỉnh thời hạn truy đóng để không bị tính lãi chậm đóng
Một thay đổi đáng chú ý là rút ngắn thời gian truy đóng BHXH để được miễn tính lãi. Cụ thể, thời hạn mới được giới hạn đến hết ngày cuối cùng của tháng kế tiếp kể từ tháng ban hành quyết định điều chỉnh tăng tiền lương. Trước đây, thời hạn truy đóng không lãi lên tới 6 tháng kể từ thời điểm có quyết định.
Đối với chủ hộ kinh doanh và người quản lý doanh nghiệp có hưởng lương không hoàn tất nghĩa vụ BHXH đúng thời hạn quy định, số tiền truy thu sẽ bao gồm hai phần:
- Toàn bộ số tiền phải đóng BHXH bắt buộc còn thiếu;
- Phần tiền lãi phát sinh, tính bằng 0,03%/ngày trên số tiền chậm đóng và số ngày trễ hạn theo quy định.
7. Quy định mới về tạm dừng đóng BHXH bắt buộc đối với người lao động bị đình chỉ công việc
Theo Điều 11 Nghị định 158/2025/NĐ-CP, trường hợp người lao động bị tạm đình chỉ công việc từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng, việc đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc sẽ được xử lý theo nguyên tắc như sau:
Tạm dừng nghĩa vụ đóng BHXH trong thời gian đình chỉ
Trong thời gian người lao động bị đình chỉ công việc từ đủ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng, cả người lao động và người sử dụng lao động sẽ được tạm dừng nghĩa vụ đóng BHXH bắt buộc cho khoảng thời gian này.
Trường hợp được trả đủ lương cho thời gian đình chỉ
Nếu sau thời gian đình chỉ, người lao động được trả đầy đủ tiền lương cho khoảng thời gian bị đình chỉ, thì các khoản BHXH bắt buộc sẽ phải được đóng bù tương ứng.
Thời hạn để thực hiện việc đóng bù là chậm nhất đến ngày cuối cùng của tháng kế tiếp tháng kết thúc việc tạm dừng đóng. Mức đóng bù tương ứng với mức đóng BHXH theo quy định tại Điều 33 và Điều 34 Luật BHXH 2024.
Trường hợp việc đóng bù được thực hiện sau thời hạn trên, cả người lao động và người sử dụng lao động sẽ phải thực hiện theo quy định về xử lý chậm đóng tại Điều 40 và Điều 41 Luật BHXH 2024.
Trường hợp không được trả đủ lương
Nếu sau thời gian đình chỉ, người lao động không được trả đủ tiền lương cho thời gian bị đình chỉ công việc, thì không phát sinh nghĩa vụ đóng bù BHXH bắt buộc đối với thời gian đó.
8. Hướng dẫn xác định chế độ hưu trí đối với người có thời gian tham gia cả BHXH bắt buộc và tự nguyện
Theo quy định tại Điều 17 Nghị định 158/2025/NĐ-CP, người lao động có quá trình tham gia đồng thời bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc và BHXH tự nguyện sẽ được xác định điều kiện hưởng chế độ hưu trí theo nguyên tắc sau:
Trường hợp được hưởng lương hưu theo chính sách BHXH bắt buộc
Người lao động có từ:
- Đủ 15 năm đóng BHXH bắt buộc trở lên, nếu thuộc đối tượng quy định tại Điều 64 Luật BHXH 2024, hoặc
- Đủ 20 năm đóng BHXH bắt buộc trở lên, nếu thuộc đối tượng quy định tại Điều 65 Luật BHXH 2024, thì điều kiện, mức hưởng lương hưu được áp dụng theo chính sách của BHXH bắt buộc, không phân biệt có thời gian tham gia BHXH tự nguyện.
Trường hợp tính theo BHXH tự nguyện
Người vừa có thời gian tham gia BHXH bắt buộc, vừa có thời gian tham gia BHXH tự nguyện nhưng bắt đầu tham gia BHXH tự nguyện trước ngày 01/01/2021 và đã đóng đủ 20 năm BHXH tự nguyện trở lên, thì:
- Tuổi nghỉ hưu được xác định cố định là:
- Nam: đủ 60 tuổi
- Nữ: đủ 55 tuổi
Chính sách này bảo đảm quyền lợi hưu trí phù hợp với quá trình đóng góp của người lao động trong các hình thức BHXH khác nhau, đồng thời tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc xác định mức hưởng khi có thời gian đóng xen kẽ giữa hai hình thức.
Kết luận
Cập nhật 8 điểm mới quan trọng trong chính sách BHXH theo Nghị định 158/2025/NĐ-CP, góp phần hoàn thiện khung pháp lý, đảm bảo quyền lợi cho người lao động và trách nhiệm của người sử dụng lao động. Việc hiểu rõ và tuân thủ đúng các nội dung mới sẽ giúp cá nhân, tổ chức chủ động thích ứng với thay đổi trong chính sách an sinh xã hội.
📌 Lương hưu, trợ cấp BHXH
Hiện nay, nhiều người băn khoăn:
Tiền lương hưu và các khoản trợ cấp bảo hiểm xã hội (BHXH) nhận qua tài khoản ngân hàng có phải kê khai, nộp thuế thu nhập cá nhân hay không?
Vấn đề này đã được quy định cụ thể trong Luật Thuế thu nhập cá nhân (sửa đổi năm 2012).
🔷 Về tiền lương hưu
Theo quy định, tiền lương hưu thuộc diện được miễn thuế thu nhập cá nhân. Cụ thể:
🔷 Về các trợ cấp BHXH
Pháp luật cũng quy định rõ, các trợ cấp mang tính chất BHXH không thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân.
Đây là những khoản tiền nhằm hỗ trợ người lao động trong các hoàn cảnh khó khăn, không mang tính chất tiền lương, tiền công để tính thuế.
Cụ thể, theo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế TNCN số 26/2012/QH13, các khoản trợ cấp BHXH được miễn thuế bao gồm:
📖 Kết luận
➡️ Cả tiền lương hưu và các khoản trợ cấp BHXH đều không phải chịu thuế thu nhập cá nhân, theo đúng quy định pháp luật hiện hành.