Đồn trưởng Đồn biên phòng có quyền ra lệnh khám xét khẩn cấp? Nếu có thì cần phê duyệt từ Viện Kiểm sát trước hay không?
Theo quy định tại Điều 193 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 như sau:
Thẩm quyền ra lệnh khám xét
1. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này có quyền ra lệnh khám xét. Lệnh khám xét của những người được quy định tại khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.
2. Trong trường hợp khẩn cấp, những người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 110 của Bộ luật này có quyền ra lệnh khám xét. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi khám xét xong, người ra lệnh khám xét phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ việc, vụ án.
Thẩm quyền ra lệnh khám xét được quy định tại Điều 193 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
(1) Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 có quyền ra lệnh khám xét. Lệnh khám xét của những người được quy định tại khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ Tố tụng hình sự 2015 phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.
(2) Trong trường hợp khẩn cấp, những người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 110 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 có quyền ra lệnh khám xét. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi khám xét xong, người ra lệnh khám xét phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ việc, vụ án.
(3) Trước khi tiến hành khám xét, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp về thời gian và địa điểm tiến hành khám xét để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc khám xét, trừ trường hợp khám xét khẩn cấp. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám xét. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản khám xét.
(4) Mọi trường hợp khám xét đều được lập biên bản theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và đưa vào hồ sơ vụ án.
Theo quy định tại khoản 1, Điều 193, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định về thẩm quyền ra lệnh khám xét. Về kĩ thuật lập pháp, điều luật dẫn chiếu đến khoản 1, Điều 113 (quy định về thẩm quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam) và khoản 2, Điều 35 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 (quy định về người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra). Theo đó, những người có thẩm quyền ra lệnh khám xét gồm có:
– Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp;
– Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trường, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;
– Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp, hội đồng xét xử;
– Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư quy định tại khoản 2 Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Như vậy, thẩm quyền ra lệnh khám xét được trao rộng cho người tiến hành tố tụng của cả 3 cơ quan: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án nhằm đảm bảo hiệu quả của biện pháp điều tra này. Tuy nhiên, vì biện pháp khám xét là biện pháp ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền cơ bản của công dân nên những nhà làm luật cũng quy định, lệnh khám xét của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp và người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư … quy định tại khoản 2 Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.
Theo quy định tại khoản 2, Điều 193 B ộ luật Tố tụng hình sự 2015 cũng quy định những người có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp quy định tại khoản 2, Điều 110, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 có quyền ra lệnh khám xét trong trường hợp khẩn cấp, bao gồm:
+ Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp
+ Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương, Đồn trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp luật lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn trường Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng;
+ Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến càng.
Theo đó, Đồn trưởng Đồn Biên phòng nằm trong danh sách những người có thẩm quyền ra lệnh khám xét khẩn cấp trong trường hợp khẩn cấp, được quy định tại khoản 2 Điều 110 và khoản 2 Điều 193 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015. Trong trường hợp khám xét khẩn cấp, Đồn trưởng Đồn Biên phòng không cần Viện Kiểm sát phê chuẩn trước khi thực hiện.
Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 193 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, trong vòng 24 giờ kể từ khi kết thúc việc khám xét, người ra lệnh khám xét phải thông báo bằng văn bản cho Viện Kiểm sát cùng cấp hoặc Viện Kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ việc, vụ án.
Trình tự khám xét người khẩn cấp trong tố tụng hình sự được quy định như thế nào?
Căn cứ tại Điều 194 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về trình tự khám xét người khẩn cấp trong tố tụng hình sự được quy định. cụ thể:
– Khi bắt đầu khám xét người, người thi hành lệnh khám xét phải đọc lệnh và đưa cho người bị khám xét đọc lệnh đó.
– Giải thích cho người bị khám xét và những người có mặt biết quyền và nghĩa vụ của họ.
– Người tiến hành khám xét phải yêu cầu người bị khám xét đưa ra các tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án, nếu họ từ chối hoặc đưa ra không đầy đủ các tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án thì tiến hành khám xét.
Lưu ý: Việc khám xét người phải do người cùng giới thực hiện và có người khác cùng giới chứng kiến. Việc khám xét không được xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị khám xét.
Có thể tiến hành khám xét người mà không cần có lệnh trong trường hợp bắt người hoặc khi có căn cứ để khẳng định người có mặt tại nơi khám xét giấu trong người vũ khí, hung khí, chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án.
Phụ cấp bộ đội biên phòng có tính thuế thu nhập cá nhân không?
Căn cứ Điều 2 Thông tư liên tịch 212/2013/TTLT-BTC-BQP quy định về các khoản thu nhập chịu thuế TNCN đối với sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp,…gồm có:
Thu nhập chịu thuế và không chịu thuế từ tiền lương, tiền công
Các khoản phụ cấp, trợ cấp kể cả sinh hoạt phí mà người nộp thuế nhận được trừ các khoản phụ cấp, trợ cấp sau:
a) Các khoản phụ cấp, trợ cấp đặc thù quốc phòng:
a.1) Phụ cấp đặc biệt;
a.2) Phụ cấp thâm niên nghề;
a.3) Phụ cấp phục vụ Quốc phòng – An ninh đối với công nhân viên chức quốc phòng;
a.4) Trợ cấp đối với cán bộ chiến sỹ khi nghỉ hưu, chuyển ngành, hy sinh, từ trần theo quy định của pháp luật;
a.5) Trợ cấp thôi việc, xuất ngũ, phục viên; trợ cấp tạo việc làm sau xuất ngũ phục viên;
a.6) Phụ cấp kiêm nhiệm chức danh lãnh đạo;
a.7) Phụ cấp đặc thù quân sự đối với một số đối tượng trong quân đội gồm:
– Phụ cấp đối với lực lượng Phòng không – Không quân;
– Phụ cấp đối với lực lượng Bộ đội Biên phòng;
– Phụ cấp đối với lực lượng trực tiếp tham gia các đội công tác tăng cường cơ sở địa bàn Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây Bắc và các tỉnh biên giới Việt – Lào;
– Phụ cấp đối với cán bộ chiến sỹ bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nghi lễ;
…
Theo đó, phụ cấp đối với lực lượng Bộ đội Biên phòng là khoản phụ cấp không phải đóng thuế thu nhập cá nhân.

Bình luận