Phân chia ngân sách khi sáp nhập tỉnh thành theo Dự thảo Luật Ngân sách nhà nước sửa đổi?
Ngày 28/3/2025, Bộ Tài chính vừa công bố Dự thảo Luật Ngân sách nhà nước sửa đổi (lần 2).Trong đó, Dự thảo đề xuất tỷ lệ phân chia giữa ngân sách Trung ương với ngân sách địa phương trong 2 trường hợp chưa sáp nhập và sau khi có quyết định sáp nhập.
Dự thảo Luật Ngân sách nhà nước sửa đổi (lần 2): Tải về
Căn cứ khoản 1 Điều 34 Dự thảo Luật Ngân sách nhà nước sửa đổi đề cập đến việc nguồn thu của ngân sách Trung ương, có các khoản thu ngân sách Trung ương hưởng 100% gồm:
Nguồn thu của ngân sách trung ương
1. Các khoản thu ngân sách trung ương hưởng 100%:
a) Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế nhập khẩu bổ sung;
b) Thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hàng hóa nhập khẩu;
c) Thuế tài nguyên, thuế thu nhập doanh nghiệp, lãi được chia cho nước chủ nhà và các khoản thu khác từ hoạt động thăm dò, khai thác dầu, khí;
d) Viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế, các tổ chức khác, các cá nhân ở nước ngoài cho Chính phủ Việt Nam;
đ) Phí thu từ các hoạt động dịch vụ do các cơ quan nhà nước trung ương thực hiện. Các khoản phí thu từ hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức được cơ quan có thẩm quyền giao cung cấp dịch vụ công nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật;
e) Lệ phí do các cơ quan nhà nước trung ương thu, trừ lệ phí trước bạ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 36 của Luật này;
g) Tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính, phạt khác theo quy định của pháp luật do các cơ quan nhà nước trung ương thực hiện;
h) Thu nộp ngân sách nhà nước tử khai thác, xử lý tài sản công do cơ quan nhà nước ở Trung ương quản lý, xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công;
i) Các khoản thu hồi vốn của ngân sách trung ương đầu tư tại các tổ chức kinh tế; cổ tức được chia bằng tiền, lợi nhuận được chia tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có vốn góp của Nhà nước do bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương đại diện chủ sở hữu; thu phần lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ của doanh nghiệp nhà nước do bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương đại diện chủ sở hữu; chênh lệch thu lớn hơn chi của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sau khi trừ khoản dự phòng rủi ro và trích lập các quỹ theo quy định của pháp luật;
k) Thu từ quỹ dự trữ tài chính trung ương;
l) Thu kết dư ngân sách trung ương;
m) Thu chuyển nguồn từ năm trước chuyển sang của ngân sách trung ương;
n) Thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu;
o) Thu từ nhà cung cấp nước ngoài;
p) Thu cấp quyền tần số vô tuyến điện;
q) Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
Đồng thời, taị khoản 2 Điều 34 Dự thảo Luật này đối với các khoản thu phân chia và tỷ lệ (%) giữa ngân sách Trung ương với ngân sách địa phương, Bộ Tài chính đưa ra 2 phương án.
Phương án 1: Trước khi sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh
Phương án này áp dụng cho tình huống chưa có sự sáp nhập các tỉnh, thành. Tỷ lệ phân chia các khoản thu giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương được quy định cụ thể như sau:
(1) Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) (trừ các khoản tại điểm c, n khoản 1 Điều 34):
– Ngân sách Trung ương hưởng:
+ 72% số thu tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.
+ 45% số thu tại Đồng Nai và Bình Dương.
+ 30% số thu tại các địa phương còn lại.
– Ngân sách địa phương hưởng phần còn lại:
+ 28% tại Hà Nội và TP. HCM.
+ 55% tại Đồng Nai và Bình Dương.
+70% tại các địa phương khác.
(2) Thuế tiêu thụ đặc biệt (trừ khoản hoàn thuế và khoản tại điểm b khoản 1 Điều 34):
Ngân sách Trung ương hưởng:
+ 80% số thu tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.
+ 70% số thu tại Đồng Nai và Bình Dương.
+ 50% số thu tại các địa phương còn lại.
Ngân sách địa phương hưởng phần còn lại
+ 20% tại Hà Nội và TP. HCM.
+ 30% tại Đồng Nai và Bình Dương
+ 50% tại các địa phương khác.
(3) Thuế bảo vệ môi trường:
– Ngân sách Trung ương hưởng 80%.
– Ngân sách địa phương hưởng 20% số thu trên địa bàn.
(4) Thuế giá trị gia tăng (GTGT) (không bao gồm số thuế được hoàn):
– Ngân sách Trung ương hưởng 70%.
– Ngân sách địa phương hưởng 30%, phân chia cụ thể cho từng địa phương dựa trên nguyên tắc, tiêu chí do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định hàng năm.
(5) Tiền sử dụng đất, tiền thuê đất (trừ khoản tại điểm h khoản 1 Điều 34):
– Các địa phương không nhận bổ sung cân đối:
+ Ngân sách Trung ương hưởng 30%.
+ Ngân sách địa phương hưởng 70%.
– Các địa phương nhận bổ sung cân đối:
+ Ngân sách Trung ương hưởng 20%.
+ Ngân sách địa phương hưởng 80%.
(6) Thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tài nguyên nước (do cơ quan Trung ương cấp):
– Ngân sách Trung ương hưởng 70%.
– Ngân sách địa phương hưởng 30%.
Lưu ý: Trong trường hợp có biến động lớn về thu, chi ngân sách hoặc giữa các địa phương, Chính phủ sẽ trình Quốc hội điều chỉnh tỷ lệ phân chia để đảm bảo phù hợp.
Phương án 2: Sau khi có quyết định sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh
Phương án này áp dụng khi các tỉnh, thành đã được sáp nhập theo quyết định của Quốc hội. Tỷ lệ phân chia các khoản thu sẽ thay đổi so với phương án 1 như sau:
– Tỷ lệ phân chia các khoản thu (bao gồm thuế TNDN, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường, thuế GTGT, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, và thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tài nguyên nước) sẽ được xác định lại.
– Việc xác định lại này dựa trên:
+ Đơn vị hành chính cấp tỉnh mới sau sáp nhập.
+ Mục tiêu tăng cường phân cấp, phân quyền, và tự chủ nguồn lực cho địa phương.
+ Tình hình phát triển kinh tế – xã hội của các địa phương sau sáp nhập.
– Quốc hội sẽ quyết định tỷ lệ cụ thể, đảm bảo phù hợp với bối cảnh mới sau khi sáp nhập.
Năm ngân sách được tính như thế nào?
Căn cứ Điều 14 Luật Ngân sách nhà nước 2015 quy định về năm ngân sách:
Năm ngân sách
Năm ngân sách bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 năm dương lịch.
Do đó, năm ngân sách tại Việt Nam trùng với năm dương lịch, bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 của cùng năm.
Các hành vi bị cấm trong lĩnh vực ngân sách nhà nước?
Căn cứ quy định tại Điều 18 Luật Ngân sách nhà nước 2015 quy định các hành vi bị cấm trong lĩnh vực ngân sách nhà nước gồm:
– Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt hoặc thiếu trách nhiệm làm thiệt hại đến nguồn thu ngân sách nhà nước.
– Thu sai quy định của các luật thuế và quy định khác của pháp luật về thu ngân sách; phân chia sai quy định nguồn thu giữa ngân sách các cấp; giữ lại nguồn thu của ngân sách nhà nước sai chế độ; tự đặt ra các khoản thu trái với quy định của pháp luật.
– Chi không có dự toán, trừ trường hợp quy định tại Điều 51 của Luật này; chi không đúng dự toán ngân sách được giao; chi sai chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi, không đúng mục đích; tự đặt ra các khoản chi trái với quy định của pháp luật.
– Quyết định đầu tư chương trình, dự án có sử dụng vốn ngân sách không đúng thẩm quyền, không xác định rõ nguồn vốn để thực hiện.
– Thực hiện vay trái với quy định của pháp luật; vay vượt quá khả năng cân đối của ngân sách.
– Sử dụng ngân sách nhà nước để cho vay, tạm ứng, góp vốn trái với quy định của pháp luật.
– Trì hoãn việc chi ngân sách khi đã bảo đảm các điều kiện chi theo quy định của pháp luật.
– Hạch toán sai chế độ kế toán nhà nước và mục lục ngân sách nhà nước.
– Lập, trình dự toán, quyết toán ngân sách nhà nước chậm so với thời hạn quy định.
– Phê chuẩn, duyệt quyết toán ngân sách nhà nước sai quy định của pháp luật
– Xuất quỹ ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước mà khoản chi đó không có trong dự toán đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định, trừ trường hợp tạm cấp ngân sách và ứng trước dự toán ngân sách năm sau quy định tại Điều 51 và Điều 57 của Luật này.
– Các hành vi bị cấm khác trong lĩnh vực ngân sách nhà nước theo quy định của các luật có liên quan.
- Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của SPRINGO. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email hrspring.vn@gmail.com.
- Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo.
- Điều khoản áp dụng theo Luật tại thời điểm viết bài.
- Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail hrspring.vn@gmail.com.