Thuế chuyển khoản là gì?
Hiện nay, theo các quy định của pháp luật liên quan về thuế, không có sắc thuế nào có tên là “Thuế chuyển khoản”, việc chuyển khoản trong trường hợp này chỉ là phương thức thanh toán, mà không phải là đối tượng chịu thuế.
Đây là thuật ngữ hay cách gọi dùng để chỉ các loại thuế phát sinh trong quá trình thực hiện giao dịch chuyển tiền có liên quan đến hoạt động kinh doanh, đầu tư, chuyển nhượng hoặc mua bán hàng hóa, dịch vụ…
Thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo
Đánh thuế chuyển khoản bị xử phạt không?
Giả sử trường hợp hộ kinh doanh đánh thuế chuyển khoản của khách hàng, hay nói cách khác là đánh thêm thuế khi khách hàng chuyển khoản thanh toán.
Căn cứ Điều 4 Thông tư 40/2021/TT-BTC quy định như sau:
Nguyên tắc tính thuế
1. Nguyên tắc tính thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được thực hiện theo các quy định của pháp luật hiện hành về thuế GTGT, thuế TNCN và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
…
Có thể thấy rằng, nguyên tắc tính thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được thực hiện theo các quy định của pháp luật hiện hành về thuế GTGT, thuế TNCN và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
Bên cạnh đó, vào ngày 04/6/2025, Cục Thuế đã gửi thư ngỏ về việc một số cơ sở kinh doanh chỉ nhận tiền mặt nhằm “né thuế”.
Tải Thư ngỏ của Cục Thuế tại đây: Tải về
Theo đó, những ngày gần đây, mạng xã hội lan truyền nhiều thông tin liên quan đến các cửa hàng kinh doanh từ chối nhận thanh toán chuyển khoản mà chỉ nhận tiền mặt nhằm “né thuế”. Với những thông tin này, cơ quan Thuế xin được thông tin tới người nộp thuế như sau:
Theo quy định của pháp luật thuế, doanh thu tính thuế GTGT đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh là doanh thu bao gồm thuế (trường hợp thuộc diện chịu thuế) của toàn bộ tiền bán hàng, cung ứng dịch vụ mà hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được hưởng không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.
Hành vi treo biển “chỉ nhận tiền mặt” hoặc ghi nội dung chuyển khoản mập mờ – ví dụ “trả tiền mượn”, “tiền cafe”, “tiền ship”… – để cơ quan chức năng gặp khó khăn khi xác định doanh thu không làm giảm nghĩa vụ thuế, mà ngược lại có thể trở thành dấu hiệu nghi ngờ cho hành vi che giấu doanh thu. Đồng thời còn đi ngược với xu hướng “Xã hội số – Kinh tế số – Công dân số” và chủ trương phát triển thanh toán không dùng tiền mặt của Đảng, Nhà nước. Một số trường hợp người bán yêu cầu thu thêm tiền của người mua nếu thanh toán bằng hình thức chuyển khoản không những ảnh hưởng đến quyền lợi của người mua mà còn là hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật.
Như vậy, doanh thu tính thuế GTGT đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh là doanh thu bao gồm thuế (trường hợp thuộc diện chịu thuế) của toàn bộ tiền bán hàng, cung ứng dịch vụ mà hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được hưởng không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.
Điều này cũng có nghĩa là giá bán hàng hóa, dịch vụ đã bao gồm thuế, thì không được thu thêm hay đánh thuế thêm khoản tiền nào.
Từ những quy định trên, suy ra, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh phải tính thuế GTGT, thuế TNCN, việc đánh thuế chuyển khoản hay dùng tiền mặt khi mua bán hàng hóa, dịch vụ không làm ảnh hưởng đến nghĩa vụ thuế theo quy định và thậm chí còn có thể bị xử phạt hành chính và xử lý hình sự theo quy định của pháp luật.
Xem thêm Xử lý hình sự đối với tội trốn thuế theo quy định hiện nay
Hành vi trốn thuế xử phạt hành chính như thế nào?
Căn cứ Điều 17 Nghị định 125/2020/NĐ-CP quy định xử phạt hành vi trốn thuế như sau:
(1) Phạt tiền 1 lần số thuế trốn đối với người nộp thuế có từ một tình tiết giảm nhẹ trở lên khi thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
– Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế hoặc nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc kể từ ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế, trừ trường hợp quy định tại điểm b, c khoản 4 và khoản 5 Điều 13 Nghị định 125/2020/NĐ-CP;
– Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp, không khai, khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, được miễn, giảm thuế, trừ hành vi quy định tại Điều 16 Nghị định 125/2020/NĐ-CP;
– Không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp người nộp thuế đã khai thuế đối với giá trị hàng hóa, dịch vụ đã bán, đã cung ứng vào kỳ tính thuế tương ứng; lập hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ sai về số lượng, giá trị hàng hóa, dịch vụ để khai thuế thấp hơn thực tế và bị phát hiện sau thời hạn nộp hồ sơ khai thuế;
– Sử dụng hóa đơn không hợp pháp; sử dụng không hợp pháp hóa đơn để khai thuế làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm;
– Sử dụng chứng từ không hợp pháp; sử dụng không hợp pháp chứng từ; sử dụng chứng từ, tài liệu không phản ánh đúng bản chất giao dịch hoặc giá trị giao dịch thực tế để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được miễn, giảm, số tiền thuế được hoàn; lập thủ tục, hồ sơ hủy vật tư, hàng hóa không đúng thực tế làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, được miễn, giảm;
– Sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng, khai thuế với cơ quan thuế;
– Người nộp thuế có hoạt động kinh doanh trong thời gian xin ngừng, tạm ngừng hoạt động kinh doanh nhưng không thông báo với cơ quan thuế, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều 10 Nghị định 125/2020/NĐ-CP.
(2) Phạt tiền 1,5 lần số tiền thuế trốn đối với người nộp thuế thực hiện một trong các hành vi quy định tại mục (1) mà không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.
(3) Phạt tiền 2 lần số thuế trốn đối với người nộp thuế thực hiện một trong các hành vi quy định tại mục (1) mà có một tình tiết tăng nặng.
(4) Phạt tiền 2,5 lần số tiền thuế trốn đối với người nộp thuế thực hiện một trong các hành vi quy định tại mục (1) có hai tình tiết tăng nặng.
(5) Phạt tiền 3 lần số tiền thuế trốn đối với người nộp thuế thực hiện một trong các hành vi quy định tại mục (1) có từ ba tình tiết tăng nặng trở lên.
Ngoài ra, còn phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
– Buộc nộp đủ số tiền thuế trốn vào ngân sách nhà nước đối với các hành vi vi phạm quy định tại mục (1) (2) (3) (4), (5)
Trường hợp hành vi trốn thuế theo quy định tại mục (1) (2) (3) (4), (5) đã quá thời hiệu xử phạt thì người nộp thuế không bị xử phạt về hành vi trốn thuế nhưng người nộp thuế phải nộp đủ số tiền thuế trốn, tiền chậm nộp tính trên số tiền thuế trốn vào ngân sách nhà nước theo thời hạn quy định tại khoản 6 Điều 8 Nghị định này.
– Buộc điều chỉnh lại số lỗ, số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ trên hồ sơ thuế (nếu có) đối với hành vi quy định tại mục (1) (2) (3) (4), (5)
Lưu ý: Các hành vi vi phạm quy định tại điểm b, đ, e khoản 1 Điều 17 Nghị định 125/2020/NĐ-CP này bị phát hiện sau thời hạn nộp hồ sơ khai thuế nhưng không làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc chưa được hoàn thuế, không làm tăng số tiền thuế được miễn, giảm thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 3 Điều 12 Nghị định 125/2020/NĐ-CP.
- Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của SPRINGO. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email hrspring.vn@gmail.com.
- Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo.
- Điều khoản áp dụng theo Luật tại thời điểm viết bài.
- Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail hrspring.vn@gmail.com.
TIN CÙNG CHUYÊN MỤC
Danh sách 302 doanh nghiệp đề xuất kiểm tra thuế theo Công văn 1927?
Toàn văn Quyết định 313/QĐ-BHXH sửa đổi quy trình giải quyết hưởng chế độ BHXH, chi trả chế độ BHXH?
Mã định danh của 4 Thuế cơ sở tỉnh Cao Bằng sau sáp nhập tỉnh năm 2025 là gì?