Tạm dừng tiếp nhận tờ khai trên hệ thống VNACCS của Cục hải quan từ 19/4/2026?
NÓNG: Tiếp tục điều chỉnh giá xăng dầu ngày 15/4/2026 khi giá xăng dầu thế giới biến động
Hệ thống VNACCS/VCIS là Hệ thống thông quan tự động và Cơ chế một cửa quốc gia gồm 02 hệ thống nhỏ:
(i) Hệ thống thông quan tự động (gọi tắt là Hệ thống VNACCS);
(ii) Hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin nghiệp vụ (gọi tắt là Hệ thống VCIS).
Hệ thống VNACCS/VCIS gồm các phần mềm chủ yếu: Khai báo điện tử (e-Declaration); Manifest điện tử (e-Manifest); Hóa đơn điện tử (e-Invoice); Thanh toán điện tử (e-Payment); C/O điện tử (e-C/O); Phân luồng (selectivity); Quản lý hồ sơ rủi ro/tiêu chí rủi ro; Quản lý doanh nghiệp XNK; Thông quan và giải phóng hàng; Giám sát và kiểm soát.
Ngày 13/4/2026, Cục hải quan đã có Công văn 342/CNTT-QLVH năm 2026 về việc bảo trì hệ thống VNACCS/VCIS tại Trung tâm dữ liệu Hải quan.
Tải vềCông văn 342/CNTT-QLVH năm 2026
Cụ thể, Thực hiện kế hoạch bảo trì hệ thống VNACCS/VCIS tại Trung tâm dữ liệu Hải quan – Cục Hải quan, Ban CNTT và Thống kê Hải quan thông báo tới các đơn vị kế hoạch thực hiện như sau:
Đợt 1:
Thời gian triển khai: bắt đầu từ 09 giờ sáng ngày 19/4/2026 đến 06 giờ sáng ngày 20/4/2026.
Phạm vi ảnh hưởng: Tạm dừng tiếp nhận tờ khai trên hệ thống VNACCS trong thời gian triển khai.
Đợt 2:
Thời gian triển khai: bắt đầu từ 09 giờ sáng ngày 26/4/2026 đến 06 giờ sáng ngày 27/4/2026.
Phạm vi ảnh hưởng: Tạm dừng tiếp nhận tờ khai trên hệ thống VNACCS trong thời gian triển khai.
Việc quản lý rủi ro trong quản lý thuế của cơ quan hải quan được quy định ra sao?
Căn cứ Điều 9 Luật Quản lý thuế 2019 quy định việc quản lý rủi ro trong quản lý thuế của cơ quan hải quan, cụ thể như sau:
(1) Cơ quan thuế áp dụng quản lý rủi ro trong đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, nợ thuế, cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế, hoàn thuế, kiểm tra thuế, thanh tra thuế, quản lý và sử dụng hóa đơn, chứng từ và các nghiệp vụ khác trong quản lý thuế.
(2) Cơ quan hải quan áp dụng quản lý rủi ro trong khai thuế, hoàn thuế, không thu thuế, kiểm tra thuế, thanh tra thuế và các nghiệp vụ khác trong quản lý thuế.
(3) Áp dụng cơ chế quản lý rủi ro trong quản lý thuế gồm nghiệp vụ thu thập, xử lý thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế; xây dựng tiêu chí quản lý thuế; đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người nộp thuế; phân loại mức độ rủi ro trong quản lý thuế và tổ chức thực hiện các biện pháp quản lý thuế phù hợp.
(4) Đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người nộp thuế và phân loại mức độ rủi ro trong quản lý thuế được quy định như sau:
– Đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của người nộp thuế được thực hiện dựa trên hệ thống các tiêu chí, thông tin về lịch sử quá trình hoạt động của người nộp thuế, quá trình tuân thủ pháp luật và mối quan hệ hợp tác với cơ quan quản lý thuế trong việc thực hiện pháp luật về thuế và mức độ vi phạm pháp luật về thuế;
– Phân loại mức độ rủi ro trong quản lý thuế được thực hiện dựa trên mức độ tuân thủ pháp luật của người nộp thuế. Trong quá trình phân loại mức độ rủi ro, cơ quan quản lý thuế xem xét các nội dung có liên quan, gồm thông tin về dấu hiệu rủi ro; dấu hiệu, hành vi vi phạm trong quản lý thuế; thông tin về kết quả hoạt động nghiệp vụ của cơ quan quản lý thuế, cơ quan khác có liên quan theo quy định của Luật Quản lý thuế 2019;
– Cơ quan quản lý thuế sử dụng kết quả đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người nộp thuế và kết quả phân loại mức độ rủi ro trong quản lý thuế để áp dụng các biện pháp quản lý thuế phù hợp.
(5) Cơ quan quản lý thuế ứng dụng hệ thống công nghệ thông tin để tự động tích hợp, xử lý dữ liệu phục vụ việc áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý thuế.
(6) Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định tiêu chí đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người nộp thuế, phân loại mức độ rủi ro và việc áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý thuế.
Lưu ý: Luật Quản lý thuế 2025 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2026, trừ quy định tại khoản 2 Điều 52 Luật Quản lý thuế 2025 áp dụng từ 01/01/2026
Cơ quan hải quan có làm thủ tục hải quan ngoài giờ làm việc không theo Công văn 14844?
Căn cứ vào Điều 4 Thông tư 38/2015/TT-BTC có quy định về thực hiện thủ tục hải quan ngoài giờ làm việc, ngày nghỉ, ngày lễ như sau:
Quy định về thực hiện thủ tục hải quan ngoài giờ làm việc, ngày nghỉ, ngày lễ
1. Cơ quan hải quan thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa vào ngày nghỉ, ngày lễ và ngoài giờ làm việc để đảm bảo kịp thời việc xếp dỡ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, việc xuất cảnh, nhập cảnh của người, phương tiện vận tải hoặc trên cơ sở thông báo trước qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan hoặc bằng văn bản (chấp nhận cả bản fax) của người khai hải quan theo quy định tại khoản 4 Điều 23 Luật Hải quan. Thông báo phải được gửi đến cơ quan hải quan trong giờ làm việc theo quy định. Ngay sau khi nhận được thông báo, cơ quan hải quan có trách nhiệm phản hồi cho người khai hải quan qua Hệ thống hoặc bằng văn bản về việc bố trí làm thủ tục hải quan vào ngày nghỉ, ngày lễ và ngoài giờ làm việc.
2. Trường hợp cơ quan hải quan đang kiểm tra hồ sơ, kiểm tra thực tế hàng hóa mà hết giờ làm việc thì thực hiện kiểm tra tiếp cho đến khi hoàn thành việc kiểm tra và không yêu cầu người khai hải quan phải có văn bản đề nghị. Thời hạn kiểm tra thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 23 Luật Hải quan.
3. Đối với các cửa khẩu biên giới đất liền, việc thực hiện thủ tục hải quan vào ngày nghỉ, ngày lễ và ngoài giờ làm việc phải phù hợp với thời gian đóng, mở cửa khẩu theo quy định của pháp luật và Điều ước quốc tế giữa Việt Nam và các nước có chung đường biên giới.
Đồng thời, ngày 03/04/2026, Cục Hải quan đã có Công văn 14844/CHQ-GSQL năm 2026 Tải về v ề thủ tục hải quan có hướng dẫn về vấn đề này, cụ thể như sau:
– Cơ quan hải quan vẫn thực hiện thủ tục ngoài giờ làm việc nhằm đảm bảo việc xếp dỡ hàng hóa, xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh của người và phương tiện.
Người khai hải quan phải thông báo trước qua hệ thống điện tử hoặc bằng văn bản trong giờ làm việc, cơ quan hải quan sẽ phản hồi về việc bố trí thực hiện.
– Trường hợp cơ quan hải quan đang kiểm tra hồ sơ hoặc hàng hóa mà hết giờ làm việc thì tiếp tục thực hiện đến khi hoàn thành, không yêu cầu người khai phải đề nghị.
– Đối với cửa khẩu biên giới đất liền, việc làm thủ tục ngoài giờ làm việc phải phù hợp với thời gian đóng, mở cửa khẩu theo quy định pháp luật và điều ước quốc tế.

