Đã có Công văn 4675 BNV TCBC 2025 về chính sách, chế độ đối với hợp đồng lao động hỗ trợ, phục vụ như thế nào?
Đã có Công văn 4675 BNV TCBC 2025 về chính sách, chế độ đối với hợp đồng lao động hỗ trợ, phục vụ như thế nào?
Ngày 03/7/2025, Bộ Nội vụ ban hành Công văn 4675/BNV-TCBC năm 2025 về chính sách, chế độ đối với hợp đồng lao động hỗ trợ, phục vụ.
Xem toàn bộ Công văn 4675 BNV TCBC 2025 về chính sách, chế độ đối với hợp đồng lao động hỗ trợ, phục vụ dưới đây:
Tại đây
Bộ Nội vụ có ý kiến như sau:
(1) Khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp (kết thúc cấp huyện, sáp nhập cấp tỉnh từ ngày 01/7/2025) trường hợp hợp đồng lao động thực hiện công việc hỗ trợ, phục vụ có nguyện vọng nghỉ việc thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cùng với cấp ủy, chính quyền cùng cấp xem xét, quyết định theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Do vậy, đề nghị Sở Nội vụ tỉnh Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) căn cứ phương án bố trí hợp đồng lao động theo Đề án tổng thể sắp xếp các cơ quan, tổ chức, đơn vị và đề xuất các đối tượng thực hiện chính sách theo Nghị định 178/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 67/2025/NĐ- CP), bảo đảm phù hợp với nguyên tắc đã được quy định tại Văn bản số 4177/BNV-TCBC ngày 23/6/2025 của Bộ Nội vụ.
Trường hợp cơ quan, tổ chức, đơn vị phát sinh nhu cầu, cần phải ký hợp đồng lao động thực hiện công việc hỗ trợ, phục vụ khác so với phương án bố trí hợp đồng lao động tại Đề án tổng thể sắp xếp các cơ quan, tổ chức, đơn vị nêu ở trên (đã được sử dụng làm cơ sở để xem xét giải quyết chính sách, chế độ) thì được báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định việc thực hiện ký kết hợp đồng theo quy định.
[…]
Trên đây là thông tin: Đã có Công văn 4675 BNV TCBC 2025 về chính sách, chế độ đối với hợp đồng lao động hỗ trợ, phục vụ như thế nào?
Đã có Công văn 4675 BNV TCBC 2025 về chính sách, chế độ đối với hợp đồng lao động hỗ trợ, phục vụ như thế nào?
Tiêu chí đánh giá người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động được áp dụng chính sách như cán bộ để giải quyết chính sách, chế độ Nghị định 178 cần đáp ứng như thế nào?
Căn cứ theo Điều 6 Nghị định 178/2024/NĐ-CP sửa đổi bởi khoản 4 Điều 1 Nghị định 67/2025/NĐ-CP quy định tập thể cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu từng cơ quan, tổ chức, đơn vị phai thực hiện rà soát, đánh giá đối với tất cả người lao động thuộc phạm vi quản lý dựa trên kết quả thực hiện nhiệm vụ trong 03 năm gần nhất theo các tiêu chí sau:
(1) Tiêu chí đánh giá về phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm, ý thức kỷ luật, kỷ cương trong thực thi nhiệm vụ, công vụ của người lao động.
(2) Tiêu chí đánh giá về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; khả năng đáp ứng yêu cầu về tiến độ, thời gian, chất lượng thực thi nhiệm vụ, công vụ thường xuyên và đột xuất.
(3) Tiêu chí đánh giá về kết quả, sản phẩm công việc gắn với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị mà người lao động đã đạt được.
Đối với cán bộ, công chức, viên chức được đánh giá là người có phẩm chất, năng lực nổi trội thì phải đáp ứng 3 tiêu chí tại (1), (2) và (3), đồng thời phải bảo đảm tiêu chí đánh giá về đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung và có thành tích tiêu biểu, nổi trội, mang lại lợi ích cho cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Nguyên tắc thực hiện chính sách, chế độ đối với cán bộ công chức, người lao động trong thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy là gì?
Căn cứ theo Điều 3 Nghị định 178/2024/NĐ-CP quy định về nguyên tắc thực hiện chính sách, chế độ đối với cán bộ công chức, người lao động trong thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy như sau:
– Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội và Nhân dân trong quá trình thực hiện chính sách, chế độ.
– Bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, minh bạch và theo quy định của pháp luật.
– Bảo đảm chậm nhất sau 05 năm kể từ ngày quyết định sắp xếp tổ chức bộ máy của cấp có thẩm quyền có hiệu lực thi hành thì số lượng cán bộ lãnh đạo, quản lý và số lượng cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ở các cơ quan, tổ chức đơn vị trong hệ thống chính trị sau sắp xếp theo đúng quy định.
– Bảo đảm chi trả chính sách, chế độ kịp thời, đầy đủ theo quy định của pháp luật; sử dụng đúng, hiệu quả ngân sách nhà nước.
– Từng cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thực hiện rà soát, đánh giá tổng thể cán bộ, công chức, viên chức và người lao động công tâm, khách quan trên cơ sở đánh giá phẩm chất, năng lực, kết quả thực hiện và mức độ hoàn thành nhiệm vụ theo yêu cầu vị trí việc làm của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động; trên cơ sở đó thực hiện sắp xếp, tinh giản biên chế và thực hiện chính sách, chế độ đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động.
– Tập thể lãnh đạo cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị chịu trách nhiệm trong đánh giá, sàng lọc, lựa chọn đối tượng nghỉ việc gắn với việc cơ cấu và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý để cơ quan, tổ chức, đơn vị hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.
– Một đối tượng đủ điều kiện hưởng nhiều chính sách, chế độ quy định tại các văn bản khác nhau thì chỉ được hưởng một chính sách, chế độ cao nhất.
– Các bộ, ban, ngành ở trung ương và các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở cấp tỉnh phải cử khoảng 5% cán bộ, công chức, viên chức trong biên chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị đi công tác ở cơ sở.
